Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Nhà văn và người em trai

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Trong cuốn tiểu thuyết nọ tôi đã viết, ngủ ngày làm đêm là thói quen chung của đạo tặc trên thế giới.
Nếu chỉ xét về thói quen này thì nhà văn cùng một loại như bọn trộm cướp, có điều tính chất công việc làm vào ban đêm của đôi bên thì khác nhau vô cùng. Dẫu vậy nhà văn vẫn là người thực hiện một cách ngoan cố nguyên tắc ngủ ngày làm đêm ấy.
Điều sợ hãi nhất đối với nhà văn là khi đang ngủ có người đến gõ cửa dựng dậy, người tới thăm đông không thể tưởng tượng, thì cũng tại cuốn tiểu thuyết của nhà văn đang được cải biên thành điện ảnh đã gây nên cơn sốt. Ban đầu nhà văn còn nhiệt tình chia sẻ niềm vui, ân cần nói đi lặp lại những gì về tiểu thuyết, về phim ảnh, mãi sau đâm ra nhàm chán. Nhàm chán và phiền muộn là chỉ ở trong lòng, nhưng biểu hiện bên ngoài vẫn không dám cẩu thả, hay khinh thường gì cả, nhà văn sợ người ta sẽ cho mình mới thành danh đã lên mặt, thoát ly quần chúng. Thực tình thì nhà văn cần rất nhiều thời gian để đọc để viết, cho dù không đọc hay viết gì thì cũng muốn nhàn tản hút điếu thuốc hoặc nhâm nhi ly cà phê. Cuối cùng nhà văn quyết định vào những lúc ngủ ngày như thế, dứt khoát rút phích cắm dây điện thoại, hạ cầu dao chuông điện và treo tờ cáo thị: “Nếu không xảy ra động đất, xin thông cảm, sau ba giờ chiều hãy gõ cửa”. Nhà văn tuy đọc thông viết thạo, chữ nghĩa bời bời mà cứ thường phạm sai sót về ngôn từ, ý tứ. Ngay như cái tờ cáo thị này cũng đã sai lầm nghiêm trọng, vì nếu không may xảy ra động đất, chẳng cần ai gõ cửa thì nhà văn vẫn phải vùng dậy, thoát thân, lắm khi còn nhanh hơn thiên hạ nữa là. Cho dù bình luận ra sao thì tờ cáo thị với lời lẽ dí dỏm, nghiêm túc, dễ thương đã ngăn được khá nhiều bàn tay giơ lên định gõ cửa.
Nhưng đúng 12 giờ trưa hôm ấy nhà văn đang ngủ say thì có người đến tìm, anh ta thoạt đầu là gõ, gõ nhẹ, gõ nặng đều không nghe và cuối cùng là đập cửa thình thình như thể cháy nhà, động đất hay vỡ đê. Tội nghiệp nhà văn, ngồi viết thâu đêm, mới chợp mắt đâu ba bốn tiếng đồng hồ, cần nghỉ ngơi cho lại sức mà ai nỡ dựng dậy như thế này. Nhưng nhà văn là người thông minh, khẳng định vị nào đó ở ngoài kia đọc rõ cáo thị, nhưng vẫn mạnh tay đập cửa phải là rất quan trọng và có việc cần kíp, nên lập tức dẹp ngay mọi bực dọc, hồi hộp kéo chốt cửa và suy đoán ai đây nhỉ. Hóa ra là thằng Ba, em trai liền kề nhà văn dưới quê lên.
Phản ứng tâm lý đầu tiên của nhà văn là “lại nó, cái món hàng này”, ngay đến một câu chào, lời mời nhà văn cũng chẳng nói, lững thững, ngái ngủ quay lưng. Thằng Ba không hề chấp anh Hai mặt lạnh hay mặt nóng, theo đuôi bước vào, ngồi phịch xuống sopha, châm thuốc hút, nhả khói phì phèo, vui mừng cất tiếng: “Anh Hai này, em muốn...”. Phản ứng tiếp theo của nhà văn là nghĩ ngay “mày muốn tiền chứ gì?”, thực tình thì khi anh em mới xáp mặt nhau nhà văn đã sờ cái ví sau đít có còn cồm cộm nữa không, lần nào cũng một điệp khúc đó, quen quá đi rồi. Nhưng chẳng còn cách nào khác, tội nghiệp chúng nó sống dưới quê, vùng sơn cước, chưa thoát nghèo, không có đứa nào lên nổi thành phố học hành, làm ăn, nên dồn hết mọi hy vọng, vinh quang, kiêu ngạo vào mỗi nhà văn, người anh cả này. Người con duy nhất trong gia đình chẳng những rời khỏi xóm núi, thôi phận chân lấm tay bùn, chẳng những không phải cam chịu kiếp làm thuê lao công đào đường, thông cống mà dần dần vươn lên văn đàn, vượt trên Đồng Quan, nổi danh cả nước, trở thành người xuất chúng. Đã có lúc nhà văn tự hỏi, đều là con cái cùng một mẹ một cha, mà sao chỉ số thông minh giữa mình và bọn em lại chênh lệch nhau đến thế, thậm chí còn nghi ngờ, hay là khác huyết thống... Nhưng bây giờ điều phiền muộn nhất của nhà văn là chẳng còn bao nhiêu tiền, làm cách nào đẩy nổi “món hàng” này ra khỏi cửa. Ừ thì tiểu thuyết, phim ảnh cũng rùm beng lên đó, nhưng khốn nỗi nhuận bút không đủ ấm chân răng, mà bọn chúng thì đâu có hiểu và tin cho chứ.
Thằng Ba hớp một ngụm nước và thản nhiên nói thẳng:
- Anh Hai chẳng cần phải rầu rĩ làm gì, lần này thằng Ba không xin tiền đâu mà sợ, thằng Ba biết ông anh tiếng nhiều tiền ít, vẫn là một anh nghèo với biết bao danh vọng hão huyền, anh Hai có cho, em đây cũng không nhận.
Ô hay, nhà văn ngạc nhiên, chắc là mình nghe nhầm, chứ thằng Ba có lúc nào đã chê tiền đâu. Không, hắn tiếp tục và rất rõ ràng:
- Em định mở một công ty vận tải, đầu tiên là mua chiếc xe buýt, tính chuyện chạy đường dài, nhà nước đã quy định nếu phát triển vượt lên trên xe ba bánh là có thể làm đơn xin lập công ty.
Nhà văn chau mày giương mắt nhìn cho rõ thằng Ba, mãi vẫn chưa định thần, thật không ngờ nhà mình lại có anh trọc phú, bỗng chốc nắm trong tay cả vạn đồng.
- Đấy, anh Hai xem, anh có bao nhiêu tiền mà dám cho em, bán cả chị dâu cũng chẳng mua nổi bộ vỏ ruột xe nữa là.
Nhà văn đã bắt đầu tỉnh táo, dí dỏm hỏi người em trai:
- Ngữ như mày, loại hàng này mà cũng đòi xe khách đường dài, không nằm mơ đấy chứ? - Nhà văn hiểu thằng Ba này nhất nên mới dám xỉ vả “hàng họ” như thế. Trong mấy đứa em trai, em gái chỉ có nó là khác đời, chứ còn lại đều thật thà, làm không nên nghiệp lớn nhưng vẫn chăm chỉ ba cái việc bình thường, kiếm không được nhiều tiền thì dè sẻn, tiết kiệm, đố có bao giờ ngửa tay xin ai một cắc một chinh. Riêng thằng Ba là ba hoa, khoác lác, mơ làm giàu, một tấc lên mây, đến như hai cụ mà vẫn không chịu nổi. Duy mỗi điều là tính tình rất vô tư, có chửi mắng, chế nhạo tới cỡ nào cũng cứ ngây thơ, cười khì.
- Em biết anh Hai xem thằng Ba này chẳng ra gì, không tin em. Đúng thôi, sự nghiệp chưa thành công thì ai dám tin, đợi đến lúc mở mày mở mặt, chao ôi, có đuổi cũng không chịu đi - Người em trai nhà văn chẳng những không tự ái, buồn phiền mà còn thuyết giảng triết lý nữa - Như anh Hai mấy năm về trước, viết ngày viết đêm, hết tập này đến tập khác, nộp đi trả lại, không ai chịu đăng. Đừng nói người ngoài, ngay như bọn chúng em có đứa nào chịu xem anh Hai là nhà văn đâu. Nhưng hôm nay anh Hai thành danh rồi, nhân tình thế thái ra sao, thằng Ba này chẳng cần nói thì ông anh đã rõ.
Nhà văn đang bị người em trai chặn họng, đúng là phép tắc thép của cuộc đời nó cứng như thế. Khen cho thằng Ba có con mắt tinh tường, nhìn xuyên suốt cả cuộc đời văn nghiệp của anh đây. Thì cũng từ ngày cuốn tiểu thuyết được cải biên, chuyển thành điện ảnh nhà văn mới tạm gọi là “phú tại sơn lâm”, chứ trước đó thì vẫn thuộc diện “bần cư trung thị”, chẳng ma nào thèm ngó. Nhà văn gõ trán, luận về đầu óc thì “loại hàng này” không ngu chút nào, còn động cơ tốt hay xấu khoan hẵng bàn, biết đâu việc nhỏ chẳng thành mà nghiệp lớn lại nên, hiện đang có không ít điển hình “phất lên sau một đêm” cứ phơi bày ra đó. Nhà văn vui vẻ:
- Được đấy, mày có định mua cả đoàn tàu hỏa, tao cũng không phản đối, làm đi!
Thằng Ba cười khì:
- Bây giờ thì em xin nhờ anh Hai.
- Nhờ gì tao, tiền thì mày không lấy.
- Một lá thư tay.
- Một lá thư tay? Cho ai kia chứ?
- Cho bạn của anh Hai, ông Lưu, huyện trưởng.
- Để làm gì?
- Để huyện trưởng Lưu nói giúp với giám đốc chi nhánh ngân hàng một tiếng thì thằng Ba của ông anh mới vay được tiền. Các anh bạn bè lâu ngày, dăm ba câu như thế có tốn kém gì đâu.
Nhà văn kinh hãi:
- Mày giỏi, biết động não, kéo cả quan hệ bằng hữu của tao vào cuộc...
- Xã hội bây giờ tuy tốt đấy, nhưng thiếu quan hệ là không sống nổi anh Hai ạ, anh chỉ cần viết trên một mẩu giấy, rộng bằng hai lóng tay, nhỏ thôi, rồi huyện trưởng Lưu nhấc máy, cũng ngắn thôi, đôi ba câu là giám đốc chi nhánh ngân hàng hiểu ngay mà. Chỉ ngần ấy chứ nhiều nhặn gì cho cam, phải không anh Hai?
Nhà văn chữ nghĩa bời bời, tay trái kẹp điếu thuốc, tay phải ngoáy một cái là xong lá thư “nhỏ thôi, ngắn thôi” cho bạn cũ - Lưu huyện trưởng. Thằng Ba hí hửng ra về và mấy hôm sau thì nhà văn bỗng chột dạ, gọi điện gấp cho huyện trưởng họ Lưu:
- A lô cậu biết thằng em mình là loại hàng gì rồi, nói nó mãi mà không sao chuyển biến nổi, nên mới đá sang cho cậu, cậu tìm bất cứ lý do nào đó, từ chối và đẩy nó ra khỏi cửa giúp mình.
- Cậu gọi điện quá chậm - Huyện trưởng Lưu cười vang trong máy - Chiều hôm qua nó đến đây và mình đã giải quyết xong xuôi.
- Giải quyết thế nào?
- Thì giới thiệu nó sang gặp giám đốc chi nhánh ngân hàng nông nghiệp chứ còn làm gì nữa?
- Chết mình rồi lão Lưu ơi!
- Sao?
- Nó mà vay được tiền thì sau ba ngày là tiêu sạch, biết lấy đâu mà trả nợ cho ngân hàng hở trời?
- Nhà văn cứ yên tâm, ngân hàng bây giờ đã đổi mới, những loại thư tay của cậu, những cú điện thoại của mình không ăn nhằm gì đâu - Huyện trưởng Lưu lại cười, nhà văn dập máy và lập tức chuông reo, thằng Ba gọi từ quê lên.
- Anh Hai ơi, xong rồi, huyện trưởng mới nói nửa câu, giám đốc ngân hàng liền gật đầu, em vay 15 vạn, ông ta chấp nhận ngay, thằng Ba này đã nói từ lâu “thiếu quan hệ là không sống nổi” mà ông anh thấy chưa?
Nhà văn lo lắng, 15 vạn chứ có phải một, hai trăm đâu mà vung tay quá trán, vỡ nợ ra thì khốn cả nhà, rồi trăm dâu lại đổ đầu tằm, tại thằng Hai viết thư giới thiệu với huyện trưởng Lưu. Nhà văn trịnh trọng và âu yếm khuyên bảo người em trai của mình:
- Ba, em đã tính đến khả năng chi trả hay chưa?
- Anh Hai sợ lửa như vậy thì làm sao mà học nổi thợ rèn - Thằng Ba hào sảng, triết lý - Người ta cho vay tiền tất nhiên phải dựa vào bảo lãnh và thế chấp, anh Hai thương bọn em nhà quê xóm núi thì đứng ra giúp đỡ đi anh!
- Mày định lấy tao để thế chấp khoản vay 15 vạn của ngân hàng hay sao?
- Ai dám thế chấp một đại tác gia như anh Hai - Tiếng cười thằng Ba vang lên trong máy - Giám đốc chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tư vấn cho em là hãy đem cuốn sách ấy của anh Hai ra mà thế chấp.
Nhà văn thông minh, trong chốc lát đã hiểu rõ cái trò chơi của Lưu huyện trưởng và giám đốc ngân hàng, thằng Ba tinh ranh, lôi kéo quan hệ, nhờ thư tay, nhờ điện thoại rỉ tai cuối cùng cũng trở nên mù điếc.
- Sách của tao đã bán cho nhà xuất bản từ lâu rồi, bản quyền là của người ta, có còn thuộc tao nữa đâu mà đem ra thế chấp?
- Anh Hai nói gì mà kỳ cục quá, thằng Ba em không hiểu, sách do anh viết ra lại không thuộc về mình, thế thử hỏi con gái anh cũng không mang họ của anh à?
- Đó là pháp luật Ba ạ!
Thằng Ba vỡ mộng, kêu lên trong máy:
- Anh Hai lừa em hay cái lão giám đốc ngân hàng?
- Ba, mày sẽ dần dần hiểu rõ là chẳng ai lừa mày cả.
- Vậy bây giờ anh Hai tính sao, có cách gì giúp em không, để em vay được tiền, dẫu là phải nói dối, hay lừa đảo...
- Tao có mỗi cây bút máy, mác “Vĩnh Sinh”, mày đem đi mà thế chấp - Nói đoạn, nhà văn cúp máy.
...
Tới mùa đông tác phẩm hoàn thành, nộp bản thảo cho nhà xuất bản, nhà văn như một sản phụ vừa qua kỳ sinh nở, mẹ tròn con vuông, lên đường về thăm quê xóm núi, thăm người em trai nông dân vĩ đại của mình và rút ví lấy ra hai trăm đồng, bảo nó đi mua chiếc xe đạp mới và tháo tất cả phụ tùng đã chôm chỉa trả lại cho huyện trưởng Lưu. Thằng Ba vẫn chứng nào tật ấy:
- Anh Hai quá ư cẩn thận nên rách việc, chiếc xe ấy đâu phải lão Lưu bỏ tiền túi ra mua mà là xe công, của quỹ xóa đói giảm nghèo đấy, hỏng chiếc này thì mua chiếc khác, lão cũng quên lâu rồi, ông anh ạ!
Nhà văn cương nghị:
- Ba, chưa quên, mày mà còn như thế thì biết đời nào mới thoát được nghèo, hở em?
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Củ khoai nướng

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn.
Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút.
Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được một việc gì đó trong khi con trâu đang mải miết gặm cỏ. Cậu bèn ngồi đếm từng con sáo mỏ vàng đang nhảy kiếm ăn trên cánh đồng màu đã thu hoạch. Thỉnh thoảng chúng lại nghiêng ngó nhìn cậu, ý chừng muốn dò la xem "anh bạn khổng lồ" kia có thể chơi được không. Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng lên trời. Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót. Với bất cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu. Nó bị sót lại từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt. Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp bên dưới chỉ là một mẩu khoai. Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng tượng đến món khoai nướng. Ruột nó trong như thạch. Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này. Thật may là mình đem theo lửa - cậu lẩm bẩm. Sợ niềm hy vọng đi veo mất nên cậu rón rén bới lớp đất mềm lên. Khi cậu hoàn toàn tin nó là một củ khoai thì cậu thọc sâu tay vào đất, sâu nữa cho đến khi những ngón tay cậu ôm gọn củ khoai khá bự, cậu mới từ từ lôi nó lên. Chà, thật tuyệt vời. Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.
Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức. Trong chốc lát đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi củ khoai vào. Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật. Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở nên vô cùng huyền diệu. Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan tỏa, xoắn xuýt. Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói và sau đó làm nên sự nghiệp. Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật. Nào, để xem sau đây cậu sẽ làm nên công trạng gì.
Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới. Ông già ôm theo bọc tay nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng. Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên. Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ. Vài lần giáp mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa. Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó chỉ trông cậy vào người ông mù lòa.
Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần. Có thể thấy rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó. Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh thoảng lén nhìn Mạnh.
- Mùi gì mà thơm thế - ông cậu bé lên tiếng - Hẳn ai đang nướng khoai. Ngồi nghỉ một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu.
Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào. Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ xíu. Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa. Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa. Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ khoai cháy mất. Đã có mùi vỏ cháy. Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành đen thui mới thôi. Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo:
- Tôi chỉ xin lửa thôi...
Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên. Nhưng ông lão mắt lòa không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.
- Thôi, chào cậu nhé. Ta đi tiếp đi cháu!
Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước. Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu. Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống. Ôi, giá như có ba củ khoai, chí ít cũng là hai củ. Đằng này chỉ có một... Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa dần. Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất. Giờ đây củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó. Dù Mạnh có dối lòng rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào củ khoai... Hình như đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó. Có thể ông nội cậu đã từng nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy.
Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà. Giờ đây mới là lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà vô giá. Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra. Nửa củ khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Uống cà phê ở Mỹ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Cà phê Mỹ nhạt, cả màu lẫn vị. Một chất nước loãng nâu lờ nhờ, hơi có vị khét, thường pha trong một cái bình thủy tinh to và rót vào những chiếc ly giấy xốp.
Cho thêm hai, thậm chí ba gói đường và nửa ly sữa cũng không làm chất nước ấy ngọt và thơm hơn. Sáng đầu tiên ở Mỹ, ngồi một mình trong vườn khách sạn mọc đầy những bụi cúc kim xanh ngắt, trong bầu khí mùa hè khô ráo với ánh nắng vàng như mật ong, tôi dùng bữa điểm tâm bằng một chiếc bánh sừng trâu quệt bơ nhỏ và một ly cà phê lớn. Tôi chỉ có cảm giác tôi đang uống một chất nước đắng hơi có vị chua khi nó trôi qua cuống họng. Cùng với mùi hương ngai ngái từ những bông dại cắm thành bình lớn trên bàn, chúng làm mũi tôi nghẹn lại và mắt cay cay. Một cảm giác gần như sự trống vắng lớn dần lên trong lòng.
Thế nên khi bạn bảo, uống cà phê ngon ở một thành phố lạ không có bạn bè cũng trở thành nhạt nhẽo thì tôi tin bạn lắm. Vì chẳng phải chúng ta đã có những buổi sớm tinh sương hoặc trong chiều muộn, ngồi trên ban công với nhau, nhìn ra bầu trời mùa thu đầy mây gió, tay cầm ly cà phê phả nhè nhẹ những làn khói xám, tự nhiên chúng ta thấy lòng ấm áp và vị cà phêđậm đà lên hẳn đó sao. Chẳng phải cùng ngồi trên chuyến xe đêm xuyên qua những rừng thu lạnh giá, ngoảnh lại sau lưng chỉ thấy một màu sương xám rơi rắc vài chiếc lá óng như những vảy vàng và một quầng trăng thu xanh nhạt, ngheVanessa Williams hát bài tình ca "Đôi khi điều quý giá nhất em muốn tìm kiếm lại là điều em không thể thấy…Đôi khi tuyết rơi vào tháng Sáu. Đôi khi mặt trời quay quanh mặt trăng…Khi em nghĩ rằng cơ hội của chúng ta đã trôi qua…" , nhấp một ngụm nhỏ cà phê Mỹ đựng trong ly giấy tự nhiên lại thấy ngọt ngào hơn đó sao.
Hôm nào ở Iowa, khi gió đã bắt đầu rét, những cây mọc bên sông đã bắt đầu nhuộm màu đỏ thắm, tôi trèo lên quán cà phê của tiệm sách Prairie Lights. Đó là một quán cà phê nhỏ thơm mùi bơ, sữa, bánh ngọt, chất đầy sách với những bộ bàn ghế gỗ vàng nhạt có tay cầm nhỏ nhắn. Aùnh sáng từ trên trần đổ xuống chỉ vừa đủ để đọc sách, phục vụ nhu cầu cao nhất của khách hàng, đọc sách và uống cà phê. Vì thế không khí trở nên yên tĩnh lạ lùng khi chỉ nghe thấy tiếng giở loạt soạt của những trang sách mỏng, tiếng ho khẽ và tiếng nói chuyện thì thào của đôi bạn trẻ ngồi ở góc phòng. Tôi kêu một ly cà phê Pháp sủi bọt. Những bọt nhỏ thơm phức màu nâu nhạt nổ lách tách quanh thành ly, báo hiệu trước một cảm giác ngọt ngào. Nhưng cuối cùng, nó lại quá ngọt so với khẩu vị của tôi và đương nhiên nó phá vỡ mất một phần vẻ đẹp trang nghiêm của bốn bức tường – sách và sự yên bình trong lòng tôi.
Hôm quay trở lại Virginia, anh chị họ rủ tôi đi uống cà phê trong một quán cà phê " đặc Mỹ", như lời anh chị nói. Hơn bảy năm sống ở Mỹ nhưng đó là lần đầu tiên họ đặt chân vào môt quán như vậy, mặc dù chúng mọc khắp thành phố. Một gian phòng nhỏ lỏng chỏng bàn ghế. Trên bàn đặt một chiếc giỏ nan nhỏ đựng các loại snack trong bao ni lông, có thể ăn thoải mái mà không phải trả tiền. Cửa ra vào lắp kiếng luôn luôn có chữ pull và push, dán chằng chịt những tờ quảng cáo và những hình thú ngộ nghĩnh. Những cô phục vụ mặc váy ngắn dù trời nóng hay lạnh uyển chuyển qua lại giữa các bàn. Chúng tôi ngồi nhâm nhi cà phê sữa nóng giữa tiếng nhạc và tiếng cười nói ồn ào của đám thanh niên. Cứ mỗi ly cà phê vừa vơi đi một nửa là lại có một cô phục vụ tới rót một đợt cà phê mới. Khói từ chiếc bình không nắp đậy phả vào mặt nóng ran. Sau cùng, chúng tôi mua thêm một chiếc bánh kem nhân táo cho cả bốn người. Nhưng sau miếng đầu tiên không ai có ý định dùng tiếp vì vị ngọt khé họng của nó. Kem bắt đầu chảy nhẫn nại trên chiếc dĩa thủy tinh màu xanh, tràn qua lớp vỏ bột vàng óng. Ông anh tôi ngó quanh ,bảo, nó cũng bình dân thôi nhỉ. Mình cứ nghĩ quán cà phê Mỹ nó phải thế nào chứ. Tôi hỏi, thế anh lên cà phê Skydome chưa? Skydome nằm gần Costco, giữa Virginia và Washington DC, trên tầng thượng của một khách sạn cao tầng. Khách lên đó ngồi, ăn mặc như đi dạ hội hay vào công sở. Thể nào cũng có một cô quản lý to béo, tóc hoe vàng đến tận thắt lưng, dẫn anh đến một chiếc bàn có chân cao bằng sắt kê sát tường. Phía sau lưng anh, phía trước mặt anh, bên phải hay bên trái anh đều là những bức tường kiếng trong suốt.
Đêm ấy sương chỉ bám một lớp mỏng màu lam nhạt lên thành kính nên nhìn ra rất rõ bầu trời thu đen thẳm với vầng trăng thu to tròn lẫn giữa mây. Những vì sao nhấp nhánh như những đầu đinh gút bằng kim cương ghim thẳng vào da trời. Những cuộn mây xám nhẹ như những cuộn khói trôi lững lờ ngang mặt. Bạn ngồi đối diện tôi và chúng ta như đang trôi đi trong mây, khi quán chậm chạp xoay tròn. Đầu tiên tôi chỉ nhìn thấy bức tường xanh của toà nhà đối diện và một góc bé của Washington DClấp lánh ánh đèn. Rồi đến toà nhà Quốc Hội, tháp Bút Chì, lầu Năm Góc dần hiện ra, nhờ ánh đèn mà sáng rực lên như những khối thủy tinh trong suốt. Chẳng mấy chốcWashington DC đã biến thành một dải sao dài vắt ngang trời. Lúc ấy đất trời lẫn lộn. Chẳng còn biết sao đã hạ xuống trần hay đèn đã bay lên trời nữa. Mải ngắm cảnh, mải ngắm nhau ( bởi vì trong ánh đèn vàng mờ ảo cho những cặp tình nhân ôm nhau nhảy giữa sàn, chúng ta đẹp lên hơn nhiều lắm), ly cà phê của chúng ta nguội dần. Vị chua của cà phê Mỹ cũng biến đi mất.
Rời khỏi đó mới hơn chín giờ. Bạn tấp vào một siêu thị dọc đường mua cà phê đóng hộp mang nhãn hiệu " Mr Brown" và chạy thẳng ra sân bay Reagan. Trên bãi cỏ ngoài bờ sông đã có vài cặp tình nhân đến ngồi. Mưa thu phả vài giọt mát lạnh vào mặt, vào tóc. Chúng ta đến ngồi trên những cầu gỗ bắc ra sông. Gió thổi làm những thanh gỗ mục đong đưa và cà phê thỉnh thoảng lại trào ra ngoài miệng lon . Cà phê lon có vị thanh nhưng chỉ đơn thuần là nước giải khát. Dưới ánh sáng trăng, dòng sông ánh những gợn vàng, đẹp một cách kiêu kỳ và lộng lẫy. Bạn bảo, ngồi một lát sẽ thấy máy bay bay lên , cảm giác lạ lắm. Nhưng những ngày ấy họ lại đổi đường bay. Chúng ta đã ngồi hết giờ này sang giờ khác, đêm này sang đêm khác mà từng năm phút một chỉ có một chiếc máy bay hạ cánh. Tiếng ầm ì dội trên đầu. Cảm giác như chỉ một vài gang tay nữa, bụng máy bay sẽ chạm thẳng vào đầu. Và gió từ cánh quạt sẽ cuốn chúng ta đi. Bạn bảo, nhìn máy bay chúng ta đang nghĩ gì? Tôi bảo,chúng ta đang nhớ về Việt nam. Tôi thì nghĩ đến chuyến bay về lại nhà. Còn bạn, tôi biết điều bạn đang mơ ước. Phải chi trên một chiếc máy bay nào đó đang hạ cánh, có chở theo người yêu dấu của bạn về đây.
Rồi để nỗi nhớ thêm đầy và đêm mau qua, bạn và tôi quay trở lại quán cà phê Phong Lan ở khu chợ Eden. Tối thứ bảy ở đó đông nghẹt thanh niên Việt và Mexico cũng tóc đen da vàng, thêm một vài cảnh sát Mỹ đứng gác sợ bạo động. Mà chuyện đó thì xảy ra như cơm bữa, bạn bảo sau khi dặn tôi, hễ có tiếng động lạ là phải nằm rạp xuống sàn ngay nhé.
Vào quán Phong Lan không thích uống cà phê hát karaoke thì chạy vào phía sau uống cà phê chơi bi da. Bạn bè cả tuần, có khi cả tháng mới gặp mặt, rủ nhau chơi thâu đêm suốt sáng. Không khí đặc quánh trong khói thuốc và tiếng ồn. Ngồi nhìn những viên bi xanh đỏ chạy qua lại một chút thì chóng mặt. Nhưng cà phê ở đây mùi vị giống hệt cà phê Việt Nam. Trong chiếc ly thủy tinh trong suốt, cà phê nâu óng, hương bay ra ngào ngạt. Nhấp một ngụm, nhắm chặt hai mắt, nghe vị đắng tan dần trên lưỡi thành vị ngọt, lại có bạn vai kề vai, thấy hệt như ngày nào cả bọn kéo xuống Thanh Đa uống cà phê.
Buổi tối ấy cũng đầy trăng sao và mây gió.
Buổi tối ấy cũng đầy tiếng nhạc và tiếng cười.
Buổi tối ấy cũng đầy hơi ấm bạn bè.
Để giờ đây đêm ở Virginia mà lòng tôi nghe như có sóng và gió từ ngoài sông Sài Gòn thổi lại.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Mịt mù tuyết bay

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Dường như nước Nga xa xôi đã được đặt vào trong cái góc mờ nhạt nhất của ký ức.
Chỉ có đôi lúc, giữa mùa nắng lửa miền Trung, Hiên lại mơ thấy mình mặc áo khoác dày cộp đi dưới một trời mịt mù tuyết bay, những hàng cột đèn đường với những đốm sáng vàng vọt và cái lạnh như nắm lấy được, sự cô đơn giá lạnh làm Hiên như ngạt thở...
Năm ấy, chừng hai tháng trước khi về Việt Nam, Hiên và Lương đến ở nhờ Châu - một anh bạn lớn tuổi cùng làm xí nghiệp giày với Lương hồi mới sang Nga. Châu thuộc dạng anh chị làm ăn có tiếng một thời ở vùng Viễn Đông. Sau mấy vụ mất mát gần như sạch tay, anh quay lại K. thuê một quầy hàng ở chợ trung tâm để bán áo da. Căn hộ Châu thuê chỉ có một buồng rộng chừng 30m2, còn lại là phòng bếp, buồng tắm... Hiên và Lương kê một chiếc giường trong góc phòng, căng một chiếc riđô, nhưng ban ngày thường được vén lên gọn ghẽ. Châu nằm trên chiếc giường ở góc kia của căn phòng.
Hiên thường thích ra bếp, kê chiếc ghế đẩu ngồi một mình trong khung cảnh ấm áp và tì má nhìn qua cửa sổ. Thành phố tỉnh lẻ buồn tới não ruột. Nhưng có đâu là vui, ở cái nơi xứ người này, mùa tuyết chỉ tụ họp trong từng căn hộ những thân phận ly hương. Đàn ông đánh bài giải khuây, rồi đến đàn bà cũng tụ tập đánh không khác gì đàn ông. Chẳng còn trò vui gì khác. Xem tivi, tiếng nước ngoài không hiểu, nhanh chán, bật lên, lại tắt.
Lương có đêm ngồi đánh bài đến sáng, tan cuộc đỏ đen vào rửa mặt rồi đi chợ luôn. Ra chợ vào kho lấy hàng, sắp xếp cho bà già người Nga bán hàng thuê ngồi bán rồi bắt taxi về nhà ngủ vùi. Có hôm dậy được thì gần tan buổi chợ, đi taxi ra xếp hàng vào kho, ghi sổ với bà người Nga, còn hôm nào không dậy được thì cứ mặc bà ta gọi cửu vạn chở hàng vào kho, tính toán mọi thứ chi tiêu trong ngày cũng như kiểm hàng. Cái cách làm ăn kiểu ấy bên này dân đi chợ chỉ có lắc đầu lè lưỡi.
Song chị em quen biết Hiên khuyên cô không nên nản, đàn ông vốn ham chơi nhưng một lúc nào đó sẽ tu tỉnh, lấy nhau có đứa con rồi mọi chuyện sẽ khác. Vả lại về Việt Nam cô có còn ai thân thích đâu. Bố mất lâu rồi, mẹ thì lấy chồng tận miền Nam, cũng vì vậy mà cô có mặt ở nước Nga này. Ngày ấy đi xuất khẩu lao động ưu tiên chọn con em liệt sĩ, cả làng cô chỉ có hai người. Cái Lanh cùng đi đã về cách đây 4 năm khi vừa hết hợp đồng lao động. Còn cô thì yêu Lương rồi nấn ná ở lại mãi đến giờ. Sống với nhau rồi mới hiểu tính nết. Nhiều thứ biết ra thì đã muộn. Lương thường hay hứa sẽ cố gắng thay đổi nhưng Hiên cũng thừa hiểu là anh chẳng làm được điều gì ngoài những món nợ ngày càng chồng chất do thua bạc.
Công việc thường ngày vẫn như vậy đối với Hiên. Nấu nướng, đi chợ rồi đợi. Để rồi chỉ có Châu về. Còn Lương vẫn cứ hàng đêm không có mặt, hoặc 2 - 3 h sáng mới về, không hề để ý đến tình cảnh khó xử của Hiên khi để cô lại một mình trong căn hộ với Châu. Có hôm Hiên xuống nơi anh thường tụ tập đánh bài tìm thì bị anh đuổi về. Máu cờ bạc làm Lương như mê mụ đi. Anh không còn để tâm đến sự tuyệt vọng cũng như tình cảm của cô nữa. Tiền đã cạn, mà mùa đông mới chỉ bắt đầu. Thậm chí nếu Hiên muốn về nước bây giờ cô cũng không thể xoay nổi khoản tiền mua vé nữa. Kể cả có đủ tiền vé để về, Hiên cũng chưa hình dung ra mình sẽ làm gì sau khi về nước. Vả lại còn Lương, tình yêu chẳng hiểu là còn hết thế nào, nhưng vẫn có một sợi dây vô hình ràng buộc. Thôi thì cũng cố gắng cho qua mùa đông...
Tuyết đầu mùa lặng lẽ rơi trên những rặng cây ngoài cửa sổ. Nhiệt độ trong phòng cũng hạ xuống, mặc dù hệ thống lò sưởi đã bắt đầu làm việc. Hiên mua về mấy cuộn bông rồi tỉ mẩn nhét vào những khe cửa kính. Sau khi đã nhét kín, cô cắt giấy báo ra thành những mảnh dài và bắt đầu dán chúng lên những khe cửa. Tay đã tê cóng mà mới xong một ô cửa sổ, cô tạm hoãn công việc của mình và đi nấu cơm.
Vừa nấu xong cơm thì Châu tan chợ về. Anh hớn hở khoe một xâu tôm sông đã luộc đỏ rọi. Hai người dọn hết đồ ăn ra bàn rồi mà Lương vẫn chưa về. Trong lúc chờ, Châu giúp Hiên dán nốt hai ô cửa kính còn lại. Căn phòng ấm áp hẳn lên. Bữa cơm có hai người nhưng cũng vui vì Châu kể cho Hiên nghe đủ thứ chuyện xảy ra ở ngoài chợ hôm nay. Dân Việt Nam mình ở đây gặp nhau ai cũng chỉ chào nhau một câu cửa miệng: "Dạo này chợ búa thế nào?". Khách ở thành phố khác đến muốn tìm người thân thì cứ ra chợ, nơi người Việt Nam bán hàng mà hỏi là nhanh nhất. Đến cả trai chưa vợ gái chưa chồng tìm hiểu nhau cũng cứ ra chợ là gặp.
Hiên đi ngủ trước. Cô kéo chiếc riđô che giường và thấy sao mà giận Lương đến thế. Anh đẩy cô vào cái tình cảnh chẳng hay ho này không chỉ một lần.
Người đàn ông đi vào buồng tắm và ở trong đó rất lâu. Tiếng nước xối ào ào làm Hiên không thể nào chợp mắt. Châu bước vào phòng sau khi tắt điện buồng tắm, trong phòng chỉ còn ánh sáng hắt từ chiếc tivi mở hình nhưng tắt tiếng. Anh bấm lung tung vài chương trình rồi ngáp. ánh sáng từ màn hình phụt tắt. Thường những đêm Lương không về hoặc về muộn thế này, Hiên rất sợ, và bao giờ cũng phải chờ cho tới khi nghe thấy tiếng ngáy say sưa như kéo gỗ của Châu rồi mới dám chợp mắt. Nhưng đêm hôm ấy, đèn đã tắt rất lâu rồi mà không thấy tiếng ngáy như thường lệ. Hiên chờ, chờ mãi, rồi người cô cứng lại vì sợ. Sự lặng lẽ trong căn phòng thật khủng khiếp với Hiên. Cô như nghe rõ cả hơi thở phập phồng của mình, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức đặt trên tivi, và cả tiếng ì ầm rất nhỏ mỗi khi xe ôtô chạy qua đại lộ ngoài xa. Chợt có tiếng húng hắng ho của Châu. Anh trở mình huỳnh huỵch trên chiếc giường lòxo, rồi Hiên nghe rõ tiếng anh trở dậy, và tiếng chân của Châu nặng nề đến gần giường cô. Hiên nín thở. Cô gắng lấy giọng bình thường, hỏi: "Anh Châu không ngủ được à?".
Câu trả lời nặng nề: "Ừ, chẳng hiểu sao".
Câu chuyện của người đàn ông kể bột phát không đầu không cuối trong đêm khuya. Quê anh ở Hưng Yên. Nhà có tới 6 anh chị em, anh là cả, tới nay mọi người trưởng thành có gia đình hết, mình anh lang thang bên này, 38 tuổi vẫn chưa vợ. Cũng vài lần yêu nhưng không thành, rồi mải mê làm ăn... Gần ba chục tuổi sang Nga theo diện xuất khẩu lao động đến bây giờ đã là 11 năm, chưa một lần về phép.
- Cái số anh nó không may, cuối năm 1991 nhà máy cho về phép thì trúng cái đợt sao mà dân việt Nam mình về đông thế. Anh mang 45kg hành lý ra sân bay đúng 8 lần, có lần đã qua cửa soi người rồi, vậy mà vẫn không lên được máy bay. Ăn mấy dùi cui của cảnh sát Nga, hành lý thì mất gần hết, lần cuối bực quá, quăng hết hành lý đi, ôm mỗi con búp bê đầu bẹp rúm với quyển hộ chiếu và vé máy bay, hy vọng mỗi người không thì đi lọt, vậy mà đành ngậm ngùi quay về K. Sau đấy có đến mấy năm liền cứ nghĩ đến chuyện về phép mà sợ. Gặp thằng bạn rủ xuống Viễn Đông đánh hàng, thư từ liên lạc với gia đình cũng đứt đoạn luôn. Mãi đến năm 1996, có thằng bạn người cùng huyện về mới gửi cho bố mẹ mấy trăm đô và ít thuốc bổ...
Thế mà các cụ cũng có được dùng, được tiêu đâu...
Giọng Châu nghẹn đi, dần thành từng tiếng nấc:
- Bố anh mất hồi đầu năm 1995, năm sau cụ bà cũng đi theo cụ ông. Hồi sang trả phép, thằng bạn cứ giấu mãi mới cho anh biết. Đợt ấy định bổ về thì hộ chiếu lại hết hạn, phải chờ đổi hộ chiếu mới. Bây giờ có hộ chiếu thì làm ăn lẹt đẹt quá. Anh cũng chỉ cố đến hết vụ áo da này, có nhiều tiền anh sẽ về xây cho mỗi cụ một ngôi mộ thật to, thật đẹp...
Hiên sửng sốt. Cô định cất tiếng nói một câu gì đó để an ủi Châu, nhưng cổ họng cứ như tê cứng. Cô muốn bật điện lên, đến bên người đàn ông to béo có khuôn mặt thật thà, đã không còn trẻ, đang khóc hu hu như một đứa trẻ ấy ở giường bên kia. Nhưng không thể. Sau rất lâu, có thể là chính sự im lặng của Hiên đã làm cho Châu bình tĩnh lại. Anh vùng dậy, mặc quần áo rồi mở cửa ra bếp ngồi hút thuốc. Thật đáng thương, Châu thật đáng thương. Nhưng lúc ấy Hiên không còn nghĩ tới Châu nữa. Những điều Châu vừa kể làm cô sợ đến nhũn người. Thật hãi hùng, cái cuộc đời hữu hạn này, thế mà trong những lúc tối tăm, u mê, không chỉ cô, Châu, Lương mà còn bao người khác cứ nghĩ là nó vô hạn. Mà thời gian thì cứ thăm thẳm trôi đi không trở lại. Mình phải làm gì? Làm gì đây? Mắt khô khốc, cô nhìn, mà chỉ thấy bóng đen thẫm màu trong phòng do rèm cửa kéo rất kín. Sau tấm kính cửa phòng bếp thi thoảng lập loè đốm lửa thuốc đang hút của Châu. Cô muốn dậy bật điện lên, hay lên tiếng gọi Châu bật điện hộ mà không hiểu sao lại cứ nằm chết lặng. Thấy tức thở, như hồi nhỏ đi chăn trâu tắm sông bị hụt chân uống no nước vậy. Và như cái lần nhận tin bố hy sinh ở biên giới năm cô 9 tuổi, Hiên không khóc được, nấc khan và thấy người bủn rủn, khiếp nhược trong một nỗi sợ hãi vô bờ.
Mọi chuyện sau đó diễn ra rất nhanh. Số tiền hơn 100 đô cô dành được và 300 đô nữa do Châu nhận mua giúp chiếc tivi - tài sản quý giá cuối cùng của cô - vừa đủ để mua vé máy bay và làm visa. Quyết định của cô thật nhanh chóng và cương quyết. Khi đã cầm vé máy bay trên tay rồi, Hiên mới đi tìm Lương và nói tất cả. Gọi là nói tất cả chứ thực ra cũng không có gì nhiều để mà nói. Chỉ toàn là nước mắt. Vả lại Lương cũng chẳng còn gì, ngoài nước mắt để tiễn Hiên. Cũng chẳng giữ một lời. Và giữ thế nào được, vé đã mua rồi, lòng người đã quyết. Làm ăn lúi xùi mãi, là người không có chí, sinh lười, sinh mê muội cờ bạc, Lương không trách ai được nữa, chỉ biết nguyền rủa chính mình. Thật nhục nhã, chẳng lo nổi cuộc sống cho người ta, làm khổ người ta, cũng không lo liệu được đồng nào cho người ta về đỡ tủi, mình là thằng bất nghĩa thật rồi. Đưa Hiên ra ga đi tàu lên Mátxcơva để bay về nước, Lương thấy đời mình đã bỏ đi.
Khi Hiên đến chào mấy anh chị đồng hương làm cùng nhà máy trước kia, ai cũng ngạc nhiên, khuyên cô nghĩ lại. Họ bị ám ảnh bởi cái nghèo, cái cực nơi quê nhà khi cất bước ra đi. ở đây dù thế nào chăng nữa cũng sướng bằng vạn ở Việt Nam. Mà về bây giờ vốn liếng không, bằng cấp không, có mà chết đói... Chính Hiên cũng chẳng hình dung sẽ gây dựng cuộc sống cho mình ở Việt Nam như thế nào, nhưng cô cảm tưởng nếu không về nhanh, thì cuộc đời của cô sẽ bỏ lỡ hết, sẽ chỉ là "ngôi mộ thật to" như lời Châu nói về bố mẹ anh. Thế mà cô còn trẻ, còn muốn sống, còn khát khao được sống. Cô cũng chẳng còn nghĩ được đến Lương nữa. Chỉ lúc ở sân ga, khi Lương đưa hành lý của cô vào trong khoang rồi cầm tay cô nước mắt giàn giụa, cô mới lặng đi, hiểu rằng họ chia tay nhau mãi mãi. Nỗi đau chia xa, mối tình đầu tiên với người đàn ông đầu tiên gắn bó, làm cô thổn thức...
Hình ảnh cuối cùng Hiên ghi nhận về nước Nga là sân bay Sheremenchevơ II, những chiếc xe cào tuyết trên đường băng, vòm trời xám, cái lạnh tới âm 21oC, tuyết bay mù mịt. Và dáng to lớn của Châu thoáng hiện giữa biển người đưa tiễn...
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Có một ông lão sống với vợ của mình

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Cả nhân vật và người đọc đều như chếnh choáng trong men say của tình yêu con người và cuộc đời, người ta quên cả tuổi già và cái chết, hay cái chết cũng là một lý do để ta yêu đời hơn.
Chegem một bà lão nông có chồng bị chết. Trong thời gian chiến tranh ông bị thương và mất một bên chân. Từ đó tới lúc chết ông đi bằng nạng. Nhưng ngay cả khi phải đi nạng ông vẫn tiếp tục làm việc và vẫn là một chủ nhà hiếu khách, như thời trước chiến tranh. Trong các buổi liên hoan, giỗ tết, ông uống rượu không thua kém bất cứ ai, và sau mỗi lần như vậy, trên đường về nhà, đôi nạng của ông cứ như thể đang bay. Không một ai biết được ông say hay ông tỉnh, là vì cả khi tỉnh lẫn lúc say bao giờ ông cũng vui vẻ.
Thế rồi ông chết. Người ta chôn cất ông trọng thể. Cả làng tới khóc ông. Nhiều người từ các làng khác cũng tới viếng ông. Ông là người dễ chịu thế đấy. Và bà vợ già của ông rất đau buồn.
Ngày thứ tư sau tang lễ, bà lão nằm mơ thấy ông. Như thể đang đứng trên một con đường nhỏ dẫn tới một ngọn núi nào đó, ông nhảy lò cò bằng cái chân lành và yêu cầu bà:
- Vì Chúa, bà hãy gửi cho tôi đôi nạng. Không có nạng tôi không thể tới thiên đường được.
Bà lão tỉnh giấc, xót thương ông lão của mình. Bà cố đoán: giấc mơ vừa rồi là có ý gì nhỉ? Mà mình gửi nạng cho ông ấy bằng cách nào đây?
Đêm hôm sau bà lão lại thấy giấc mơ cũ. Ông lão vẫn khẩn cầu bà gửi cho đôi nạng, không thì ông chẳng tới được thiên đường. Nhưng mà gửi thế nào? - Bà lão nghĩ ngợi và tỉnh giấc. Nhưng bà không sao nghĩ ra được cách. Nếu lại mơ thấy ông ấy đòi nạng, thì mình sẽ hỏi thẳng ông ấy xem sao, bà quyết định.
Bây giờ bà lão nằm mơ thấy ông lão của mình hằng đêm, và hằng đêm ông hiện về đòi nạng. Còn bà thì luôn bị rối trí trong giấc mơ, không sao chộp được cơ hội để hỏi ông lão cho đúng lúc, giấc mơ cứ trôi tuột đi đâu mất. Cuối cùng bà cố giữ bình tĩnh, bắt đầu thức trong giấc mơ. Và bây giờ, vừa thoạt nhìn thấy chồng, không chờ ông mở miệng, bà hỏi liền:
- Thế gửi nạng cho ông bằng cách nào được?
- Gửi qua người làng chết đầu tiên, - ông lão trả lời, rồi ngồi xuống đường, xoa xoa cái mỏm chân cụt của mình, chắc lò cò mãi cũng mỏi. Bà lão thương ông tới nỗi khóc cả trong mơ.
Tuy nhiên, khi tỉnh giấc, bà lại thấy dễ chịu. Bây giờ thì bà đã hiểu phải làm như thế nào rồi. Có một ông già sống ở cuối làng. Ông này từng là bạn của chồng bà lúc sinh thời. Họ thường hay uống rượu với nhau.
- Ông sướng thật đấy, - ông bạn già từng nói với ông lão, - ông có uống bao nhiêu thì lúc nào cũng có hai cái nạng nó đỡ, còn tôi thì rượu nó cứ nhè chân mà táng.
Khi đó ông bạn còn đùa cợt như thế, vậy mà giờ đã ốm nặng, nằm đó chờ chết.
Vậy là bà lão quyết định đến nói khó với bạn chồng, nếu được chấp thuận, thì khi ông chết bà sẽ đặt đôi nạng của chồng mình vào quan tài, để ông chuyển giúp khi nào họ gặp nhau.
Buổi sáng bà lão nói ý đồ của mình cho người nhà nghe. Trong nhà còn có anh con trai, cô con dâu và một thằng cháu nội đã lớn. Khi nghe bà lão kể sẽ tới gặp ông già sắp chết đề nghị cho để đôi nạng của chồng mình vào quan tài, thì tất cả đều cười bà, như thể cười một bà già rất hủ lậu. Đặc biệt thằng cháu nội cười rất to, như một người có học nhất nhà, thì nó đang chuẩn bị tốt nghiệp lớp 10 mà lại. Tất nhiên, cô con dâu không bỏ qua cơ hội, cũng cười rũ ra, mặc dù, khác với con trai, cô chưa tốt nghiệp lớp 10. Vừa cười, cô vừa nói:
- Việc ấy bất tiện lắm, - đề nghị một ông già đang sống chết đi để bỏ đôi nạng của chồng mình vào quan tài!
Nhưng bà lão đã nghĩ kĩ rồi:
- Thì tôi có bảo ông ấy chết ngay đâu, - bà lão trả lời. - Ông ấy chết, khi nào tới số. Chỉ cần ông ấy đồng ý mang theo đôi nạng.
Bà lão minh mẫn, và là người khá tế nhị, đã trả lời như vậy. Và mặc cho mọi người can ngăn, ngay ngày hôm ấy bà vẫn tới nhà bạn chồng. Bà mang theo nhiều quà, phần biếu người ốm, phần để ông lão sắp chết cùng người nhà ông đỡ bất ngờ trước lời đề nghị của mình.
Ông già nằm trong buồng, tuy đang ốm nặng, song vẫn ngậm chiếc tẩu bằng gốm. Họ nói một chút về đời sống, bà lão không dám ngỏ lời đề nghị, vì cứ thấy ngượng ngượng thế nào. Vả lại, trong buồng còn có cô con dâu và mấy người nhà đang ngồi. Hoá ra bà lão còn tế nhị hơn là chúng ta tưởng lúc đầu. Nhưng tự ông già ốm đã giúp bà - ông nhớ lại chồng bà bằng những lời lẽ tốt đẹp, sau đó thở dài nói thêm:
- Rõ là tôi sắp sửa được gặp ông nhà đây.
Lập tức bà lão hoạt bát hẳn lên.
- Nhân tiện, - bà lão vào đề, bắt đầu kể cho ông nghe về những giấc mơ của mình và việc ông chồng đề nghị gửi đôi nạng cho ông qua người làng nào chết đầu tiên. - Tôi không giục bác, - bà lão nói thêm, - nhưng nếu việc đó xảy ra thì cho phép tôi để đôi nạng vào quan tài của bác, để chồng tôi còn cà nhắc mà tới được thiên đường.
Ông lão sắp chết cùng với cái tẩu trong miệng là người sâu sắc nước đời, thậm chí còn là một ông chủ hiếu khách, song cũng không tới mức bỏ nạng người khác vào quan tài mình. Quả ông không muốn tí nào cái việc này. Ngượng ư? Cũng có thể ông sợ những người làng khác tới dự đám tang nghĩ ông bị tàn tật. Nhưng nói thẳng thì bất tiện. Chính vì vậy ông bèn vòng vo với bà lão.
- Sao, chả lẽ những người Bônsêvích còn chưa đóng cửa thiên đường ư? - ông thử đánh trống lảng.
Nhưng, hoá ra, bà lão không chỉ tế nhị, mà còn rất bướng bỉnh. Là vì bà tha thiết muốn nhờ ông chuyển đôi nạng cho chồng mình ở thế giới bên kia.
- Chưa, - bà lão chắc chắn - họ không làm nổi việc này.
Khi đó ông già quyết định từ chối khéo bằng cách nói đùa.
- Tốt nhất bà cứ để vào quan tài một chai đế xịn, - ông đề nghị, - khi nào gặp ông nhà, chúng tôi bù khú với nhau.
- Bác chỉ được cái hay đùa, - bà lão thở dài - còn ông lão nhà tôi thì đang đợi, đêm nào cũng đòi gửi nạng.
Ông già sắp chết hiểu rằng khó lòng thoát được bà lão này. Nhưng ông không muốn chết, lại càng không muốn mang theo nạng vào quan tài.
- Nhưng mà giờ thì tôi làm sao đuổi kịp ông ấy nữa, - nghĩ một chút, ông nói tiếp - ông ấy chết cách đây những một tháng. Thậm chí tôi còn ngờ liệu mình có được đi trên con đường ấy mà lên thiên đường không cơ đây. Có những tội lỗi...
- Tôi biết tội của bác rồi, - bà lão không chấp thuận. Nhưng mà bác thấy đấy, ông lão nhà tôi cũng mắc cái tội y như của bác, vậy mà vẫn được lên thiên đường. Còn về chuyện đuổi kịp, thì bác đừng nói, kẻo người ta cười cho. Ông lão nhà tôi có một chân, chưa lò cò xa được đâu. Giả thử bác chết vào ngày mai, ấy là tôi chỉ giả thử thôi, chứ không dám giục bác, thì ngày kia là bác đuổi kịp ông ấy rồi. Ông ấy chẳng đi đâu mất đâu...
Ông già tiếp tục nghĩ ngợi. Nhưng lúc đó cô con dâu đã xen vào câu chuyện. Nãy giờ cô chỉ ngồi nghe họ nói.
- Nếu như ở đấy quả thật có cái gì đó, - cô mím môi, nói, - chúng con xin bố để một bao hạt dẻ vào quan tài. Ông anh tội nghiệp của con sinh thời thích hạt dẻ lắm...
Tất cả các cô con dâu đều giống nhau, lúc nào cũng chen ngang, - bà lão nghĩ bụng.
- Này, các người, tôi thấy hình như các người muốn biến cỗ quan tài của tôi thành cái xe chở hàng đây! - ông già kêu lên, rồi quay sang bà lão, nói thêm: - Tuần sau bà tới đây, lúc ấy tôi sẽ trả lời dứt khoát.
- Có muộn không bác? - Bà lão hỏi, rõ là cố khắc phục sự tế nhị của mình - Là tôi hỏi vậy, chứ không có ý giục bác.
- Không muộn, - ông lão trả lời chắc chắn rồi làm một hơi thuốc.
Chuyện chỉ tới thế, bà lão ra về. Khi về tới nhà, vừa bước chân vào bếp, bà nhìn thấy một cảnh tượng hoàn toàn bất ngờ. Thằng cháu hay giễu cợt của bà cùng với cái chân băng bó, chống đôi nạng của ông nội đứng giữa bếp.
- Chuyện gì thế này, mày bị làm sao thế hả cháu? - Bà lão hốt hoảng, cuống cuồng.
Hoá ra, khi bà đi tới nhà ông lão sắp chết, thì cậu quý tử trèo lên cây để hái quả óc chó Hi Lạp, rồi bất thình lình đạp phải một cành khô, cành gãy, cu cậu rơi từ trên cây xuống, chân bị gãy khá nặng.
- Nạng bị dùng rồi, - thằng cháu nói, - cảm phiền ông nội đợi cho một tháng.
Bà lão yêu ông lão của mình, nhưng bà cũng rất yêu thằng cháu hay cợt nhả này. Hiện giờ cháu bà cần nạng hơn. Ông nó có phải đợi một tháng cũng chẳng sao, bà nghĩ, đường tới thiên đàng thời tiết đâu có xấu như ở ta. Vả lại, ông lão mà bà vừa tới thăm, cứ theo như bà đã quan sát, thì có thể
giữ được một tháng nữa, có khi còn lâu hơn. Nhìn khói bay từ chiếc tẩu của ông ấy thì biết.
Nhưng có một chuyện đáng ngạc nhiên hơn cả - ông lão của bà không thấy hiện về trong giấc ngủ để đòi nạng nữa. Hoàn toàn không thấy hiện về. Chắc hẳn ẩn đâu đó để chờ thằng cháu lành chân. Hằng sáng nằm nhớ lại những giấc mơ cũ, bà lão lại thương chồng. Thế nhưng thằng cháu đã bỏ nạng, vậy mà ông nó vẫn không thấy về trong giấc ngủ của bà. Có khi ông lão đã lò cò tới được tới thiên đường rồi cũng nên, chắc là phải bám vào những bụi cây ven đường. Bà lão nghĩ vậy và thấy yên tâm hẳn.
Còn ông lão sắp chết, sau chuyến tới thăm của bà, bỗng nhiên khoẻ hẳn, trở nên nhanh nhẹn lạ thường, tới mức không được lịch thiệp lắm đối với một cụ già. Quả là ông rất không muốn mang theo vào quan tài mình nạng của người khác. Thì tự ái chứ: cả đời đi đứng bình thường, tự dưng lại để nạng trong quan tài bao giờ. Ông lão ấy sống cho tới tận giờ, mặc dù từ đó tới nay đã năm năm trôi qua. Ông chăn dê trong rừng, ngày ngày chặt những cành dẻ tơ cho chúng ăn, cả những lúc đó cũng không rời cái tẩu khỏi miệng.
Chát một nhát rìu! Khà một hơi thuốc! Chát một nhát rìu! Khà một hơi thuốc! Chát một nhát rìu! Khà một hơi thuốc! Thần chết nhìn từ xa nghiến răng trèo trẹo: Cái thế giới này giá có nổ tung thì lão già đáng nguyền rủa kia cũng chẳng thèm để ý! Đành phải đợi dê của lão ăn no đã.
Và tất cả chúng ta cũng sẽ sống, một khi ông lão vẫn: "Chát một nhát rìu! Khà một hơi thuốc!". Còn đàn dê thì chẳng bao giờ biết đến thế nào là no.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Giang

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Năm ấy tôi mười bảy tuổi, binh nhì, chiến sĩ của tiểu đoàn 5 tân binh.
Tiểu đoàn chúng tôi luyện quân ở Bãi Nai. Bấy giờ đã là vào cuối khoá huấn luyện ba tháng, kiểm tra xạ kích, đạt điểm cao nhất đại đội, tôi được thưởng hai ngày phép. Đại đội trưởng linh động cho tôi miễn bình tuần tối thứ Sáu. Đã được lãi một tối càng phải liệu mà về cho khuýp giờ điểm danh đấy nhá . Anh dặn tôi thế, ra ý đe.
Chuyến về nhờ bám được xe quân sự chạy trên đường 6 nên phi cái vù đã tới nhà. Chuyến trở lại phải chen xe khách. Chín giờ tối chủ nhật mới điểm danh mà chỉ dám nấn ná cố cùng tới 12 giờ trưa là phải bứt khỏi nhà chạy nhào ra bến Kim Mã. Chen lên được một chuyến xe vào thời buổi gian khó ấy khổ sở đến thế nào, khỏi bàn. Thêm nữa lại ngày giáp Tết. Do may mắn và cũng là do ẩu tả ngồi lèn nhau trên nóc xe nên đến nhập nhoạng tối thì tôi nhảy được xuống thị trấn Lương Sơn. Đói mèm, rét run, lại luớ quớ trượt chân ngã, tuột tung quai dép và lấm be bét.
Trật trưỡng tôi dò tới cái giếng xây ở đầu trấn để rửa ráy qua loa tý chút và xâu lại dép. Chỉ có một người đang múc nước ở giếng. Trời mưa nhưng rất mỏng, như sương, và chưa tối hẳn nên từ khá xa tôi đã nhận ra một cái dáng con gái. Khi tôi tới bên giếng, hai thùng tôn của gánh nước đã được đổ đầy, cô gái cuộn dây gầu, tra đòn gánh vào hai móc xích, và trước khi lên gánh, cô đội lại chiếc nón mà lúc cúi múc nước cô đã bỏ ra để ngửa bên thành giếng. Với con mắt lính 17 tuổi nhanh như chớp tôi lườm ngay thấy tên cô nàng viết bằng mực tím ở trong vành nón, cả tên, cả họ, cả đệm, và cả lớp học của cô nữa. Phạm Nhật Giang. 10 B.
Không để ý đến tôi, cô đặt gánh lên vai. Tôi nói, vội vã, nhưng thản nhiên, như thật:
- Kìa, Giang. Cho anh mượn cái gầu đã nào.
Cô gái hạ gánh, nhìn tôi.
- Chào anh, anh bộ đội... - Cô nói, ngập ngừng, nhưng có lẽ chưa kịp ngạc nhiên - Gầu đây anh.
Tôi xoè hai bàn tay bê bết bùn ra.
- Ôi anh bị lấm hết rồi .- Cô gái khẽ thốt lên - Thôi, để em.
- Ừ. Nhờ Giang vậy, chứ không thì bẩn hết cả dây.
Cô gái múc lên một gầu, hai gầu, xối từ từ cho tôi rửa kỹ hai bàn tay.
Khi tôi định đón lấy chiếc gầu, cô bảo:
- Cái gầu này khó múc lắm. Để em giúp anh.
Cô lại thòng nhanh sợi chão xuống bóng tối sâu hút bên dưới rồi thoăn thoắt, mềm mại, kéo gầu nước lên. Nhưng sự ân cần của cô còn hơn thế. Mỗi gầu nước múc lên cô không xối cho tôi tự gột mà cúi mình xuống, một tay nghiêng gầu nước dội nhè nhẹ, một tay cô cọ bùn đất ở bàn chân, ngón chân, bắp chân tôi. Ngây ra, tôi đứng yên, sững lặng cảm nhận cái ân tình hồn nhiên và bất ngờ ấy. Rất lâu, hai đứa chẳng nói gì, cô gái lặng lẽ gột rửa cho tôi, tôi thì bất động. Cô cọ kỹ cho tôi cả đôi dép đúc.
- Tươm rồi đấy, anh - Cô gái nói trong bóng tối.
- Cám ơn nhé, Nhật Giang!
Cô gái trở lại với nỗi ngạc nhiên:
- Ô kìa. Ừ nhỉ, sao anh biết tên em?
Tôi cười, không đáp
- À, em biết rồi. Anh tọa độ chứ gì mà. Các anh bộ đội chuyên thế. Cứ gọi: Lan, Hằng, Liên, Oanh thế nào cũng trúng, chứ gì?
- Nhưng Giang, lại Nhật Giang nữa, chắc không có hai người tên như thế đâu, đoán mò sao được.
- Chắc anh đóng ở gần đây.
- Chả gần lắm, tận xóm Đượm.
- Bao xa anh?
- Giang không phải người đây à?
- Vâng, em mới Hà Nội lên - Giang đáp, và chợt cô rủ tôi:
- Nhà em đang trọ ở ngay kia, anh vào nghỉ một lát.
Tôi do dự:
- Chín giờ, đơn vị điểm danh rồi... mà còn non chục cây.
- Còn sớm, mới sáu giờ kém mà, anh.
Tôi muốn hộ Giang gánh nước, nhưng cô không chịu. Tôi theo sau cô vào sâu một cái ngõ tối. Một mình Giang một túp nhà nhỏ, mái gianh vách đất. Không có đồ đạc gì. Một chiếc giường đơn, một ngọn đèn hoa kỳ trên chiếc chõng tre, bộ ấm tích, điếu bát. Một chiếc xe đạp Phượng Hoàng dựng ở gần cửa.
Tôi mở túi phòng hóa đeo bên hông lấy gói bít cốt mẹ dúi cho hồi trưa, và rót chè tươi trong ấm tích ra bát. Bít cốt chiêu với chè tươi, định thế. Thấy vậy đang lúi húi xâu lại quai dép cho tôi, Giang vội kêu lên:
- Ôi em quên. Có cơm mà, để em dọn mời anh.
Tôi gạt đi, nhưng Giang nài tôi chịu khó chờ cô xuống bếp hâm lại cơm canh mà ăn uống cho chắc dạ và nóng sốt.
Trong lúc chờ Giang, tôi ngả phứa ra giường cô, châm thuốc hút và lim dim mắt, thả khói. Chợt cửa ra vào mở. Một người đàn ông cao lớn bước mạnh vào. Tôi giật bắn mình, bật chồm dậy. Ông nọ vận đại cán vải dạ xanh sẫm, giầy da Cô-xư-ghin, quân hàm ve áo hai sao hai vạch.
- Cậu là ai? Đâu chui vào đây? - Nghiêm sắc mặt, ông trung tá hỏi, chằm chằm nhìn.
Tôi dập gót:
- Báo cáo, tôi...
Vừa khi đó Giang bưng mâm cơm đi từ sân sau vào.
- Bố về rồi đấy ạ, - Cô vội vã nói - Bố ơi, đây là Hùng, bạn học lớp 10 với con. Anh ấy đóng quân gần đây. Chúng con tình cờ gặp nhau vừa nãy.
Ông trung tá dịu nét mặt, nhưng giọng vẫn nghiêm:
- Đóng gần đây à? Đồng chí đơn vị nào?
- Báo cáo thủ trưởng, tôi ở C7 K5 đoàn 91.
- Thế đồng chí đi đâu, sao giờ này còn tụt tạt ngoài đây?
- Báo cáo thủ trưởng, tôi về phép lên. Đơn vị chín giờ mới điểm danh.
- Thế đồng chí định để đúng điểm danh mới có mặt à? Phải về đơn vị sớm hơn chứ.
- Kìa bố, - Giang kêu lên - Bố để cho anh ấy ăn cơm đã. Bố cũng ăn luôn với bọn con đi.
- Không đâu, tớ không ăn đâu! - Tôi hoảng lên - Tớ phải chào đây, Giang!
Ông bố Giang mỉm cười, vỗ nhẹ vai tôi, bảo:
- Từ đây về xóm Đượm sáu cây, còn kịp. Cậu ăn cơm đi, ngồi chơi với Giang. Bạn học lâu ngày gặp nhau. Nhưng rồi phải ráo chân lên. Vẫn phải về kịp trước điểm danh, rõ chưa!
- Thì bố xin hộ cho anh ấy, bố! - Giang nói, nũng nịu - Bố gọi cho cấp chỉ huy của anh ấy. Chúng con học cùng từng ấy năm, gặp nhau chuyện tới khuya chẳng hết.
- Không được, - ông bố cười, lắc đầu - Bạn hữu gặp gỡ thế này là quí, nhưng con không có được nhũng nhẵng con cà con kê giữ bạn lại quá lâu. Đừng có để bạn phạm kỷ luật.
Ông nhìn đồng hồ.
- Sáu rưỡi rồi, - ông nói - Hai đứa khẩn trương cơm nước đi. Tối nay bố không ăn với con được. Bố phải qua đơn vị. Phải họp khuya đấy. Con một mình ở nhà cửa giả cho cẩn thận.
Ông bước tới bên cửa, cầm lấy ghi đông chiếc xe đạp, và nhìn tôi, ông nói:
- Hùng ngồi chơi nhá. Nhưng nhớ giờ giấc đấy.
- Kìa bố, bố lấy xe đạp ạ! - Giang kêu lên - Con định đưa anh ấy về đơn vị cơ mà, bố! Bố chịu khó đi bộ, bố nhá. Chỗ bố gần ngay đây mà.
- Không! Đừng mà... - Tôi hãi quá - Giang đừng vậy...
Ông trung tá cười, bảo:
- Con gái con đứa thế đấy. Chiều bạn hơn bố. Nhưng bố nhất trí, bố để xe cho hai đứa. Chứ mà cuốc bộ thì con làm Hùng chậm giờ mất. Có điều đường đồi ban đêm hai đứa lai nhau cho cẩn thận, đừng có phóng nhanh kẻo ngã. Đưa Hùng tới đơn vị rồi lúc quay về một mình con cứ đạp từ từ, nhìn đường. Nhưng cũng gắng đừng có thong dong quá đấy. Trời lạnh thế này. Với lại con về khuya bố không yên tâm đâu.
Tối ấy, tôi lai Giang vào sâu trong Bãi Nai. Đồng rừng tối câm, lạnh lẽo. Con đường đồi quạnh vắng, không ngừng uốn lượn và gấp khúc. Gió bấc lúc thuận lúc ngược, nhưng mà tôi không thấy mệt, tôi đạp mải miết. Tôi chưa khi nào đèo con gái. Cả hồi năm ngoái học lớp 10, được bố mẹ ưu tiên sắm riêng cho hẳn một cái Mi-pha tha hồ tung hoành phá phách, tôi cũng chỉ đạp xe rong phố với những thằng bạn. Chưa từng bao giờ có một nữ nhi ngồi sau xe tôi, áp mình tin cậy vào tôi như thế này. Đây là lần đầu. Chiếc Phượng Hoàng nặng chịch mà chẳng nặng một chút nào. Tôi guồng cẳng đạp, bám theo vệt trắng mập mờ của con đường, lên dốc, xuống dốc, quành rẽ, lạng tránh, lao rất nhanh và phanh giật cục. Giang ngồi vững và thật êm sau tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi mới nói chuyện, mà chỉ Giang nói. Giang là trò Trưng Vương, vừa tốt nghiệp lớp 10 trong năm, hiện giờ đã là sinh viên của trường Tổng hợp. Nhà cô trong ngõ Chợ phố Khâm Thiên. Túp nhà ban nãy là bố cô mượn của một người quen ở thị trấn để đón cô lên ăn Tết cùng ông. Mẹ cô mất năm ngoái, anh trai thì mới vừa đi Bê tháng trước.
- Tết ra chơi với bố con em, anh nhé. Nhà chỉ hai bố con mà cái thị trấn khỉ ho cò gáy này thì buồn ơi là buồn. Em sẽ nói khó để bố vào hẳn đơn vị đón anh. Rồi chúng mình xin phép bố lỉnh về Hà thành vài hôm. Bố em chiều em lắm, sẽ đồng ý thôi. Mà bố đã thuận thì nhất định thủ trưởng đơn vị anh cũng nhất trí.
Chúng tôi chia tay ở chân đồi Gừng, đầu con đường mòn dẫn vào xóm Đượm nơi đơn vị tôi trú quân.
- Hay là Tết em trốn vào đây với anh?
Giang hỏi, và không hiểu sao lại thở dài.
Tôi cứ đứng mãi ở ven đồi. Mặc dù không thể nhìn thấy gì trong màn đen dày đặc đêm cuối năm, tôi vẫn cứ nhìn mãi theo Giang. Chia tay, tôi đã không nói được một điều gì cả, đã không kịp ngỏ một lời nào. Cả địa chỉ của Giang nữa cũng không hỏi rõ. Chỉ biết Khâm Thiên, ngõ Chợ.
Hai hôm sau, tối ngày 27 Tết, tiểu đoàn tôi nhổ neo rời Bãi Nai. Hành quân qua Thường Tín, lên tàu ngay, không có 15 ngày phép thông lệ của lính Bê dài. Đây là một đợt tăng cường rất lớn cho chiến trường. Cả một Sư cùng lúc lên đường, gấp gáp tiến quân, vượt ngàn dặm Trường Sơn vào Nam. Vừa đặt chân lên đất Tây Nguyên đã vào ngay chiến dịch. Các đơn vị của Sư đoàn phiên hiệu khác đi nhưng vẫn giữ nguyên đội hình từ ngoài Bắc. Tiểu đoàn của tôi đánh trận mở màn, và đại đội của tôi là mũi chủ công. Trước giờ nổ súng, đích thân tham mưu trưởng sư xuống kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của chúng tôi. Mặc dù ông xuống kiềng cùng với một nhóm khá đông trợ lý và trinh sát, mặc dù ông cũng trang bị và nai nịt như mọi người, tiểu liên AK, dép đúc, mũ cối, áo lính tô châu, nhưng trong bóng rừng nhập nhoạng tôi vẫn nhận ra ông ngay. Ông chính là ông bô của Giang!
Tôi toan lỉnh, song ông trông thấy tôi tức thì. Kìa, Hùng, Hùng đấy hả Hùng! . Giọng ông ngạc nhiên, mừng vui. Ông thân thiết xiết chặt tay tôi và không nén được, ông cảm động ôm lấy tôi. Giang nó cứ nhắc cậu mãi, Hùng ạ. Nó cứ buồn vì không gặp lại được cậu trước khi chúng ta lên đường Ông bảo: Giờ đây Giang nó ở lại ngoài đó có một mình .
Gặp gỡ trước giờ nổ súng tất nhiên là chỉ thoáng nhanh, chỉ kịp nói mấy câu thế thôi. Tôi thì không nói được gì cả. Tôi chỉ ấp úng. Cả cái tên Hùng do con gái ông phịa vội ra, tôi cũng không thể cải chính.
Thời khắc gấp gáp không thể nấn ná, nhưng trước lúc đi, tham mưu trưởng sực nhớ một điều và vội vội ông nói với tôi: Giang nó có gởi cháu tấm ảnh của nó, nhưng tiếc quá, lại không mang theo đây. Để bữa sau vậy, Hùng nhé...
Không có “bữa sau” ấy. Tôi không còn có dịp được gặp lại tham mưu trưởng. Cả tới mùa khô sau, được điều lên trinh sát sư đoàn, tôi vẫn không thể nào gặp lại được ông. Tham mưu trưởng của chúng tôi đã hy sinh vào cuối mùa khô năm đầu tiên sư đoàn chúng tôi lâm trận.
Chiến tranh, đời lính, tuổi trẻ, mọi sự là như thế, chỉ thế thôi, thoảng nhanh. Thoảng nhanh nhưng không tắt lịm. Chỉ thế thôi nhưng để rồi sau này cứ nhớ mãi. Trở thành nỗi đau. Những nỗi đau mất mát âm thầm.
Chắc là bây giờ Nhật Giang vẫn còn nhớ đến tôi, người lính trẻ vô danh hơn ba chục năm về trước. Tôi thì không bao giờ quên cô ấy, mặc dù thực ra là có gì đâu một tình cờ như thế, một gặp gỡ vẩn vơ, lưu luyến mơ hồ gần như không có thật mà năm tháng cuộc đời cứ mãi chồng chất lên muốn xóa nhòa.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Gởi Một Người

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Thân yêu ạ! Bạn có biết tôi yêu bạn đến nhường nào không? Giá như ngày ấy số phận đừng để tôi gặp bạn thì có lẽ tôi đã không phải đau khổ như thế này. Thật ngốc khi tôi cứ phải đơn phương yêu bạn, để rồi âm thầm nuốt những giọt đắng vào lòng. Người ta vẫn thường bảo “Hạnh phúc nhất của một đời người đó là yêu và được yêu”. Còn tôi yêu mà chẳng được gì ngoài nỗi buồn mòn mõi dường như tuyệt vọng. Có lẽ bạn chẳng bao giờ có thể yêu tôi thậm chí tên tôi còn không được lưu giữ trong bộ nhớ của bạn nói gì đến hai chữ “tình yêu”.
Tôi tự nhủ lòng rằng: không biết bạn còn nhớ những năm học cấp ba không? Ngày ấy, tôi và bạn đã có những kỷ niệm thật đẹp mà tôi đã không thể nào quên nhưng chắc đã nhạt nhòa trong bạn vì nó quá đỗi bình thường. Làm sao tôi có thể quên được những buổi học nhóm vào mỗi chiều thứ bảy, cùng với những trò đùa nghịch quá đỗi vô tư, làm sao tôi có thể quên được ánh mắt đắm đuối ngày nào và cả nụ cười trong trẻo xưa kia. Ngày ấy, tôi đã ngộ nhận rằng bạn yêu tôi cơ nay! Nếu không, sao bạn lại trao cho tôi một bông hồng cùng tấm thiệp với lời lẽ thân thương đến vậy? Lúc đó tôi cứ ngỡ rằng: Tôi là người hạnh phúc nhất thế gian này vì được bạn ưu ái, nhưng đến khi tôi nói lời yêu bạn thì bạn lại nở nụ cười cao ngạo “Mình chỉ xem K. là bạn”. Lúc dó bạn có biết tâm trạng của kẻ bị khước từ tình yêu như thế nào không? Mà bạn có lẽ chẳng bao giờ biết được đâu nhỉ? Bởi đã bao giờ bạn thất bại đâu, một người luôn may mắn và thành công như bạn thì làm sao biết đến hai chữ “ khổ đau”.
Đau đớn và hổ thẹn, tôi chỉ còn biết chạy ra khỏi lớp và khóc, khóc cho sự ngốc nghếch cả nỗi bẽ bàng ẩn hiện chua xót. Lúc đó sao tôi lại ngốc nghếch, hồ đồ như vậy cơ chứ. Tôi là ai? Một đứa con gái quá đỗi bình thường và bướng bỉnh thì sao bạn có thể “yêu” tôi được, trong khi xung quanh bạn có bao người con gái xinh đẹp sẵng sàng làm tất cả vì bạn.
Đã bốn năm trôi qua, tôi cứ ngỡ rằng thời gian sẽ xoa dịu nỗi đau nhưng tôi không ngờ chính thời gian lại làm cho nỗi đau tồn tại. Có phải tôi yêu bạn quá đỗi mất rồi?! Tôi luôn tự hỏi, tại sao tôi lại yêu bạn như vậy? Tại sao? Tại sao tôi lại yêu bạn trong khi tôi biết tôi không đủ sức níu giữ bạn cho riêng mình. Tôi tự trách mình thật nhiều vì dã không quên bạn. Tại sao tôi cứ làm băng hoại tâm hồn của mình, bắt nó phải quằn quại đau đớn đến tội nghiệp. Tôi đã đánh mất bản ngã của mình, đâu rồi cô bé vô tư thuở nào. Bây giờ tôi biết tìm lại con người ấy nơi đâu? Tôi không còn là tôi của ngày xưa nữa rồi bạn ạ ! Hy vọng thời gian sẽ giúp tôi quên đi tất cả (cả những kỷ niệm ít ỏi ngày nào). Dầu sao tôi cũng luôn chúc bạn luôn được hạnh phúc bên người con gái đó!
Giá mà tôi có thể níu giữ trái tim kia cho riêng mình nhỉ.
Hoài Khơi
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com